Clip trường TH Chí Công 1
Đánh giá tổng kết môn TN và XH thi GVDG huyện - Năm học2011-2012
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP TỔ GIÁM KHẢO
TỔ : Tự nhiên – Xã hội
Về việc tổng kết Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp huyện
Năm học : 2011-2012
I. Thành phần :
Mãng Nam:
1. Ông ( Bà ) Lê Văn Xinh : Tổ trưởng
2. Ông ( Bà ) Mạch Thị Xuân
3. Ông ( Bà ) Hoàng Thanh Quang.
+ Thời gian : Vào lúc 8 giờ 15, ngày 29 tháng 3 năm 2012
+ Tại địa điểm : Trường Tiểu học Phan Rí Cửa 2.
Mãng Bắc:
1. Ông: Nguyễn Quý Hùng / HT Trường Tiểu học Phong Phú 3 - Tổ trưởng
2. Bà: Phạm Thị Ngọc Huệ / HT Trường Tiểu học Vĩnh Hảo 1 – Giám khảo
3.Ông: Nguyễn Ngọc Anh / HT Trường Tiểu học Vĩnh Hảo 2 – Giám khảo
4.Ông: Nguyễn Đức Tài / HT Trường Tiểu học Phước Thể 2 – Giám khảo
+ Thời gian : Vào lúc 7 giờ 30, ngày 30 tháng 3 năm 2012
+ Tại địa điểm : Trường Tiểu học Liên Hương 2
II. Nội dung : Tổng kết Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp huyện trong năm học 2011-2012 của tổ : Tự nhiên – Xã hội.
2.1. Thống kê số liệu :
|
Tiết |
Số lượng giáo viên dự thi |
Xếp loại |
||
|
Tốt |
Khá |
Trung bình |
||
|
Tiết 1 |
10 |
8 |
2 |
|
|
Tiết 2 |
10 |
8 |
2 |
|
- Tiết 1: Khoa học lớp 5: 01 tiết; Địa lí lớp 4: 1 tiết; Tn&Xh lớp 1, 2, 3: 08 tiết.
- Tiết 2: Khoa học lớp 5: 01 tiết, Tn&Xh lớp 1, 2, 3: 09 tiết.
- Những bài dạy trùng được 2-3 GV dạy/bài. Như bài: Loài vật sống ở đâu ?/ lớp 2; Một số loài vật sống trên cạn/ lớp 2; Thú/lớp 3, Cá/ lớp 3; Chim/ lớp 3). Nhưng hầu như các GV đều có cách thiết kế khác nhau, không có sao chép giáo án.
2.2. Đánh giá tình hình giảng dạy của giáo viên :
2.2.1. Kiến thức :
(Đánh giá cụ thể theo 6 nội dung của hướng dẫn đánh giá tiết dạy theo hướng dẫn tại công văn số 10358/ BGD&ĐT ngày 28/9/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đó nhận xét cụ thể nội dung 1.2):
a. Ưu điểm:
1) Đa số GV đã xác định được vị trí, mục tiêu, chuẩn kiến thức và kĩ năng, nội dung cơ bản, trọng tâm của bài dạy trên cơ sở vận dụng đúng Chuẩn KT-KN, hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học.
2) Đa số các tiết dạy GV đã giảng dạy kiến thức cơ bản chính xác, có hệ thống.
Thể hiện kiến thức cơ bản chính xác là: Từ mục tiêu chung, GV đã thiết kế các hoạt động phù hợp, qua các hoạt động HS nắm bắt đầy đủ các kiến thức theo yêu cầu đề ra.
Thể hiện tính hệ thống ở đây được thể hiện: vận dụng hiểu biết của HS từ kiến thức bài trước để tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi kiến thức bài sau. Ví dụ: từ bài “Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa”/lớp 5, GV làm cho HS sẽ hiểu sâu bài “Sự sinh sản của thực vật có hoa” là nếu thiếu đi một bộ phận nhỏ (hạt phấn, ống phấn, bao phấn, bầu nhuỵ, vòi nhuỵ, noãn) của hoa thì không thụ phấn/sinh sản được. Hay từ bài “Loài vật sống ở đâu?” HS tìm hiểu sâu kĩ về “Một số loài vật sống trên cạn”.
Nói chung: Từ yêu cầu của Chuẩn KT-KN, từ tình hình thực tế tại lớp học, điều kiện phục vụ dạy học, GV đã xây dựng kiến thức bài dạy một cách có hệ thống có chú ý tới kiến thức đồng tâm, HS được tìm hiểu từ điều đã biết đến điều chưa biết - cần biết, từ vấn đề dễ đến vấn đề khó hơn.
3) Nội dung dạy học đảm bảo giáo dục toàn diện (về thái độ, tình cảm, thẩm mĩ). Trong đó có giáo dục gắn với kiến thức, nội dung bài học và các nội dung dung GD tích hợp khác như GDKNS, BVMT.
4) Đa số các tiết dạy khai thác nội dung dạy học nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh. Từ đặc điểm của thiết kế SGK, ngoài kiến thức từ kênh hình (mục thông tin cần biết, mục bóng đèn toả sáng), HS được hoạt động tích cực để tìm tòi và lĩnh hội kiến thức qua kênh hình, liên hệ thực tế, sưu tầm...
5) Nội dung dạy học phù hợp tâm lí lứa tuổi, tác động tới các đối tượng.
Cụ thể: Từ yêu cầu cơ bản chung của tiết dạy, GV xác định đúng mức độ phù hợp theo từng lớp.
Ví dụ: Bài con cá đều có ở lớp 1, 2, 3. cho nên ở lớp 3, GV có nâng cao hơn là yêu cầu HS nêu các bộ phận bên ngoài con cá chi tiết hơn, cá thở bằng mang. Ngược lại, bài: Sự sinh sản của thực vật có hoa/ lớp 5 là bài có lượng kiến thức khá phức tạp nên GV chú ý các nội dung trọng tâm, có cách truyền đạt đơn giản, dễ hiểu. Hoặc có những trường hợp GV chú ý nhiều đến mở rộng kiến thức một cách hợp lí từ kiến thức cơ bản. Việc nâng cao kiến thức cho HS khá giỏi chỉ khi thấy cần thiết.
6) Một số tiết có cập nhật những vấn đề xã hội, nhân văn gắn với thực tế, đời sống xung quanh của học sinh. Như bảo vệ môi trường là làm cho điều kiện sống cho con người tốt hơn, bảo vệ rừng tạo môi trường sống cho động vật, sự ảnh hưởng của mọi vật xung quanh với con người và ngược lại.
b. Tồn tại :
1) Về xác định vị trí, mục tiêu, chuẩn kiến thức và kĩ năng, nội dung cơ bản, trọng tâm của bài dạy có phần chưa thật phù hợp.
Ví dụ: Bài: Thú-tiết 2/lớp 3, cho HS HĐ tìm hiểu về ích lợi của động vật hoang dã. HĐ này không phù hợp với mục tiêu chương trình (Vì HS sẽ tìm hiểu sâu kĩ ở lớp 4, lớp 5 thông qua chương: Thực vật và động vật). Cho nên ý đồ thiết kế các HĐ ở SGK chưa đặt vấn đề. Nếu như GV thiết kế HĐ nêu lợi ích của động vật hoang dã thì khi HS nêu ra những ích lợi của động vật hoang dã là cho thịt, làm đồ trang sức...như “thú nhà” thì rất mâu thuẫn với việc có ích nhưng tại sao lại không được săn bắt? Và có GV nói cho HS biết chúng giữ “cân bằng sinh thái” thì các em HS lại không hiểu “cân bằng sinh thái” là gì?
Với bài “Thú” ở lớp 3 này, cũng như ở giai đoạn 1(lớp 1, 2, 3), GV cần chỉ ra chính vì con người thấy lợi ích của thú rừng mà săn bắt bừa bãi, đã làm giảm số lượng và khai thác rừng đã làm ảnh hưởng nơi ở của chúng, chúng còn rất ít, rất hiếm nên chúng ta cần phải bảo vệ chúng. Nhiệm vụ của HS thảo luận tìm ra thật nhiều cách bảo vệ động vật hoang dã là được. Bên cạnh đó, GV cũng nên chuẩn bị sơ đồ khi HS có thắc mắc về môi trường sinh thái: “chuỗi thức ăn trong tự nhiên”: cỏ/ cây ð thỏ ð cáo ð xác chết động vật phân huỷ / vi khuẩn ð cỏ/ cây... hoặc mối quan hệ các sinh vật trong tự nhiên - “mối quan hệ thức ăn trong tự nhiên” ...
2) Không có trường hợp sai sót về kiến thức cơ bản nhưng có trường hợp chưa làm rõ kiến thức cơ bản: “cá”, “chim” là động vật có xương sống (GV cho HS quan sát bộ xương cá, chim) nhưng HS chưa nhận rõ xương sống là xương nào.
3) Có bài, có GV chưa thực hiện tính GD cụ thể, phù hợp với HS tiểu học.
Chẳng hạn như: GV GD HS, các em cần bảo vệ động vật hoang dã nhưng chỉ GD “suông”, bảo vệ như thế nào thì HS chưa biết cụ thể. Hay: để bảo vệ động vật hoang dã các em cần phải bảo vệ rừng, mà tại sao thì phải bảo vệ rừng thì HS chưa hiểu. Hay GDKN sống (KN ra quết định: bảo vệ loài vật hoang dã/ lớp 2) chỉ dừng lại trên lý thuyết, GV chỉ nói chứ chưa có hoạt động/ tình huống để các em xử lý hay các em tự nói ra quyết định như thế nào.
4) Có vài trường hợp GV chưa chú ý phát triển năng lực học tập của học sinh, tạo điều kiện cho HS phát triển tư duy. Như chưa dành thời gian cho các em suy nghĩ, vừa hỏi xong GV tự nói luôn ngay, thời gian thảo luận nhóm chưa đảm bảo. Nói chung những hoạt động dạy học: GV nói nhiều, HS nghe nhiều thì thời gian HS làm, HS suy nghĩ sẽ ít.
2.2.2 . Kỹ năng sư phạm :
(Đánh giá cụ thể theo 7 nội dung của hướng dẫn đánh giá tiết trong đó nhận xét cụ thể nội dung 2.1):
a. Ưu điểm:
1) Đa số các tiết đều thực hiện đúng đặc trưng bộ môn, đúng loại bài (lí thuyết, thực hành, mở rộng...). Thể hiện tốt qua bài dạy tiết 2 (bài 2 tiết. Ví dụ bài: Thú/lớp 3).
2) Vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với các đối tượng theo hướng phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh. GV đã thiết kế bài dạy từ HĐ khởi động đến các HĐ dạy học chủ yếu đều có mục đích, là cơ hội làm cho HS hoạt động (cả tư duy và vận động). Các PPDH, HTDH nhóm, quan sát, trò chơi, xử lý thông tin, liên hệ thực tế, sưu tầm và trưng bày, tham quan được GV vân dụng vào tiết dạy một cách hợp lí. Vì môn TH-XH là môn mà GV dễ dàng thực hiện yêu cầu này một cách thuận lợi so với Toán và Tiếng Việt.
3) Thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học và theo hướng đổi mới. Hình thức kiểm tra phong phú, nhẹ nhàng, đánh giá phù hợp theo quy định và tâm lý HS tiểu học.
4) Xử lí các tình huống sư phạm phù hợp đối tượng và có tác dụng giáo dục.
5) Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, kể cả ĐDDH tự làm thiết thực, có hiệu quả.
Điển hình: Cho HS quan sát cá cảnh đang bơi trong chậu để biết thở bằng mang, cho HS chơi đính ảnh thú hoang dã vào tranh vẽ khu rừng để HS hiểu mối quan hệ của thú hoang dã với rừng, bông cỏ lau có nhiều nhị rụng khi gặp gió (hoa thụ phấn nhờ gió), ủ hạt đậu phụng, quan sát nầm hạt đậu...
Trong các tiết dự thi có nhiều tiết dạy trên giáo án Power Point, có sử dụng máy tính và máy chiếu (mãng Nam có 3/8 GV sử dụng, mãng Bắc có 10/12 GV sử dụng. TS: 13/20 GV sử dụng Power Point). Việc dạy giáo án Power Point đã thu hút sự chú ý của HS rất nhiều và tiết kiệm hơn so với việc phải phô-tô tranh ảnh. GV đã tận dụng ưu thế của hiệu ứng Power Point để cung cấp hình ảnh sinh động cho HS quan sát, làm rõ các kiến thức bằng hiệu ứng của Power Point mà tranh ảnh thường khó nói hết được. Trong quá trình dạy, có trục trặc kỹ thuật mất điện máy chiếu, GV vừa HD HS hoạt động, vừa dạy học vừa khéo léo, vừa bình tĩnh làm cho máy hoạt động lại mà không cần có sự trợ giúp của đồng nghiệp bên ngoài.
6) Lời giảng mạch lạc, truyền cảm; chữ viết đúng, đẹp; trình bày bảng hợp lí. Ghi bảng đúng theo đặc trưng bộ môn: ngắn gọn, trọng tâm. Bên cạnh đó có GV đã quan tâm ghi bảng nhóm dưới dạng sơ đồ tư duy, sau khi hoạt động của HS hoàn thành là một kiến thức cần biết, làm cho HS nhớ kiến thức tốt hơn (tiết dạy thuộc môn khoa học lớp 5).
7) Đa số GV đã phân bố thời gian đảm bảo tiến trình tiết dạy, đạt mục tiêu của bài dạy và phù hợp với thực tế của lớp học.
b. Tồn tại :
1)
2) Có GV vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp.
Kiến thức rất đơn giản (quan sát và nói tên các bộ phận bên ngoài con gà) nhưng GV tổ chức nhóm 6 cho HS thảo luận, vừa mất thời gian vừa không phát huy tư duy của HS, trong khi chỉ cần nhóm đôi.
Việc đặc tên nhóm chưa sinh động, khoa học. Cụ thể: GV đặt tên “nhóm chó”, “nhóm bò” (thay vì “nhóm cún con”, “bê con”)... Hoặc chưa quan tâm đặt tên nhóm gắn với kiến thức cần nhớ, phù hợp nội dung bài dạy.
Vận dụng kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn” chưa đúng nên chưa phát huy tác dụng là làm cho HS thật sự tích cực. Đó là: GV ghi sẵn vấn đề vào phần trong (phần chính giữa) của khăn trải bàn, HS lần lượt từng em ghi vào phần “cạnh” của khăn trải bàn (thay vì là: các em HS cùng viết vào phần cạnh khăn trải bàn dành cho mình. Sau đó thảo luận tìm ý tưởng chung và viết vào phần chính khăn trải bàn).
3) Chưa mạnh dạn thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng đổi mới. Các tiết dạy hầu như đều dành riêng một HĐ kiểm tra bài cũ. Chưa có GV nào kiểm tra lồng ghép vào các HĐ dạy bài mới, nội dung kiểm tra thường là bài liền kề chứ chưa có GV nào tìm ra nội dung kiểm tra là kiến thức liên quan, kiến thức từ bài học trước, kiến thức bài lớp dưới (VD bài: Cá).
4) Xử lí các tình huống sư phạm phù hợp đối tượng và có tác dụng giáo dục chưa linh hoạt. Chẳng hạn: HS nêu quá nhiều lợi ích của thú rừng (rắn thì ngâm rượu, mật gấu trị bệnh, ngà voi làm đồ trang sức...) mà quên đi hoặc làm mờ đi việc tìm và nêu ra được nhiều cách phải bảo vệ thú rừng.
5) Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học chưa phát huy hết hiệu quả. VD: GV có chuẩn bị kĩ một con cá thực nhưng chưa dám xẻ con cá ra cho HS thấy rõ bộ xương trong đó có xương sống (hay có thể thay bằng những con cá khô bỏ vào túi ni lông đã được tách đôi). Hoặc khi sử dụng Power Point dạy bài: “Chim” chưa thiết kế được hiệu ứng để HS thấy bên chim là động vật có xương sống (GV chỉ chiếu thô bộ xương con chim bói cá). Hoặc khi máy bị trục trặc thì cần phải có đồng nghiệp vào trợ giúp, xử lý. Hoặc nhiều lần trong tiết dạy GV đứng trước đèn chiếu, che mất hình ảnh chiếu lên màn hình.
6) Lời giảng: đôi khi thiếu truyền cảm (như tồn tại mục 2.2 vừa nêu). Hoặc do nói thiếu từ nên gây HS hiểu nhầm (không ăn trứng, thịt gà – thiếu từ “bệnh”).
Ghi bảng: vài GV ngại trình bày bảng do ngại ghi sai, hoặc có nhiều bài có thể sử dụng sơ đồ tư duy (bài cá, chim – cấu tạo bên ngoài của cá, chim) nhưng GV chưa mạnh dạn thực hiện cách dạy này.
Có GV ghi chưa đúng tên phân môn Tự nhiên và Xã hội. Hoặc khi dạy giáo án Power Point không thể hiện tên phân môn, tên bài.
7) Có ít trường hợp GV chưa phân bố thời gian hợp lí ở các HĐ hay do tâm lý thi giảng nên tính nhầm tổng thời gian của 1 tiết dạy...
2.2.3. Thái độ sư phạm :
( Đánh giá cụ thể theo 3 nội dung của hướng dẫn đánh giá tiết trong đó nhận xét cụ thể nội dung 3.2):
a. Ưu điểm
Đa số GV có tác phong sư phạm chuẩn mực, gần gủi, ân cần với học sinh; Tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh; Kịp thời giúp đỡ học sinh có khó khăn trong học tập, động viên để mỗi học sinh đều được phát triển năng lực học tập.
b. Tồn tại :
Có một, hai trường hợp do thiếu quan sát bao quát lớp nên GV chưa quan tâm hết HS, không gọi các em (một nhóm) phát biểu.
Lời xưng hô chưa thật sự gần gũi, thân thiện: Cô – Con (cô/mẹ - con) chưa gần gũi hơn so Cô – Em/Bạn/Trò (cô/anh/chị - em). Nhưng ở đây giám khảo không áp đặt GV phải có cách xưng hô nào. Cách xưng hô nào hay là do GV tự chọn.
2.2.4. Hiệu quả:
(Đánh giá cụ thể theo 3 nội dung của hướng dẫn đánh giá tiết dạy trong đó nhận xét cụ thể nội dung 4.3):
a. Ưu điểm
- Đa số các tiết dạy có tiến trình tiết dạy hợp lí, nhẹ nhàng; các hoạt động học tập diễn ra tự nhiên, hiệu quả và phù hợp với đặc điểm học sinh tiểu học.
- Học sinh tích cực chủ động tiếp thu bài học, có tình cảm, thái độ đúng.
- Học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng cơ bản của bài học.
b. Tồn tại :
Do lời nói, kết luận, bổ sung của Gv cuối mỗi HĐ có khi chưa thật gọn gàng nên có thể có vài HS hiểu chưa chắc kiến thức và có thể hiểu khác.
2.3. Nhận xét - Đánh giá tình hình tiếp thu các văn bản hướng dẫn về chuyên môn, áp dụng những chuyên đề đã triển khai trong quá trình giảng dạy của giáo viên :
GV tiếp thu và vận dụng đúng các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, có chú ý áp dụng các chuyên đề đã triển khai vào giảng dạy như tổ chức cho HS hoạt động tìm tòi kiến thức thông qua cả kênh hình và kênh chữ, thông qua các hoạt động thực tế mà HS tham gia (đối với chương trình sách giáo khoa mới môn TN-XH), kiểm tra đánh giá HS theo thông tư 32 của Bộ và 3754 của Sở, GDKNS, GDBVMT, vận dụng tài liệu “Bản đồ tư duy” vào dạy hoc.
2.4. Kiến nghị đối với Ban chỉ đạo : Không có.
Biên bản kết thúc vào lúc 9 giờ 30 ngày 30 tháng 3 năm 2012./.
Người tổng hợp nội dung biên ban cả 2 mãng
Nguyễn Quý Hùng
Lê Thanh Bình @ 16:18 12/04/2012
Số lượt xem: 2869
- Biên bản tổng kết tổ Tiếng Việt - Hội thi GVDG cấp huyện (10/04/12)
- Báo cáo tổng kết Hội thi GVDG cấp huyện Năm học2011-2012 (10/04/12)
- Lịch làm việc của Ban tổ chức Hội thi GVDG cấp huyện - Năm học 2011-20121 (27/02/12)
- Kế hoạch thực hiện Công tác Cải cách hành chính Nhà nước năm 2012 (31/01/12)
- Quyết định V/v Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (19/01/12)
Các ý kiến mới nhất